Suy thận mạn và một số biểu hiện của bệnh

Suy thận mạn hiếm khi hồi phục và thường dần dần kéo đến tới giảm tính năng thận, thậm chí trong cả khi những nguyên nhân bước đầu đã đc loại trừ

Suy thận mạn tính

Suy thận là sự giảm mức lọc cầu thận bên dưới mức bình thường. Suy thận được gọi là mãn tính (suy thận mạn) lúc mức lọc cầu thận giảm đều đặn, thắt chặt và cố định, có ảnh hưởng liên quan đến sự giảm về con số nephron chức năng.

Suy thận mạn là 1 triệu chứng lâm sàng và sinh hóa tiến triển mãn tính qua nhiều năm tháng, hậu quả của sự xơ hóa các nephron tính năng gây giảm sút dần dần mức lọc cầu thận dẫn đến tình hình tăng nito phi protein máu như urê, creatinin máu, acid uric,…

Bệnh tiến triển chậm và thường ko bắt gặp triệu chứng cho đến lúc đã ở tình hình nguy hiểm gây hại cho bệnh nhân.

Suy thận mạn
Suy thận mạn

nguyên do làm nên suy thận mạn là gì?

Dựa vào lâm sàng, tiền sử cá thể, mái ấm gia đình, hòan cảnh xã hội, nhân tố môi trường, thuốc dùng, khám lâm sàng, xét nghiệm sinh hóa, Hình ảnh học, & thậm chí sinh thiết thận để chẩn đoán lý do bệnh suy thận mạn.

Theo Hội Thận học quốc tế KDIGO năm 2012, nguyên nhân suy thận mạn được phân căn cứ vào chỗ đứng tổn thương giải phẫu học & bệnh nền tảng gốc rễ cơ bản tại thận, hoặc thứ phát sau những tình trạng bệnh toàn thân (bảng 2)
Bệnh cầu thận : Bệnh cầu thận tổn thương tối thiểu, bệnh cầu thận màng…
Bệnh đường ống dẫn thận mô kẽ : Nhiễm trùng tiểu, bệnh thận tắc nghẽn, sỏi niệu
bệnh mạch máu thận : Viêm mạch máu do ANCA, lọan dưỡng xơ cơ
Bệnh nang thận & bệnh thận bẩm sinh khi sinh ra : Thiểu sản thận, nang tủy thận

các cấp độ của bệnh thận mạn

Mức lọc cầu thận – chỉ số đánh giá công dụng lọc chất cặn bã của thận được sử dụng để phân loại những giai đoạn của nhóm bệnh thận mạn. Hiệp hội cộng đồng Thận quốc gia Hoa Kỳ định nghĩa suy thận mạn xẩy ra khi hoặc có chấn thương nhẹ thận định vị bởi lượng chất đánh dấu nội địa tiểu hoặc quan sát thấy máu, có khả năng có hoặc có thể không có sự thay đổi mức lọc cầu thận; hoặc có mức lọc cầu thận giảm dưới 60 ml/phút/1,73 mét vuông trong ít nhất ba tháng. Bảng 1 miêu tả tiêu chuẩn phân loại những giai đoạn của bệnh thận mạn theo hướng dẫn của tổ chức Kidney Disease Outcomes quality Initiative (K/DOQI).

cách chữa suy thận mạn

Thuốc kháng aldosteron

Aldosteron gây ảnh hưởng mất an toàn đến tiến triển của nhóm bệnh thận mạn. Thuốc kháng thụ thể aldosteron (như spironolacton, triamteren) có thể đc sử dụng trong khám chữa suy thận mạn nếu sử dụng những thuốc chọn lựa đầu tay và chọn lựa hàng thứ 2 mà vẫn không đạt đc mức huyết áp mục tiêu. Thí điểm lâm sàng cho biết thêm những thuốc này cho tác dụng làm giảm protein niệu lúc phối kết hợp với cùng 1 thuốc tức chế men chuyển hay 1 thuốc ức chế thụ thể AT1.

những thuốc kháng aldosteron là các thuốc lợi tiểu giữ kali phải làm tăng nguy cơ tăng kali máu, đặc biệt quan trọng khi sử dụng với các thuốc tức chế men chuyển hoặc các thuốc tức chế thụ thể AT1.
những những người mắc bệnh sử dụng thuốc lợi tiểu giữ kali cần phải kiểm định nồng độ kali đều đặn để trong lúc này bắt gặp tình hình không ổn định điện giải. Hậu quả của tăng kali máu bao gồm loạn nhịp tim & yếu cơ nguy hiểm. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, chứng tăng kali máu có khả năng không gây ra biểu hiện gì nên việc theo dõi và quan sát ít được gây được sự chú ý.

Thuốc ức chế renin

Aliskiren là thuốc tức chế renin duy nhất có mặt trên Thị Trường Hiện giờ. Thuốc này được chống chỉ định để điều trị huyết áp tăng cao sử dụng đơn độc hoặc phối với valsartan. Các dữ liệu vừa mới đây từ thử nghiệm ALTITUDE đã đưa ra không sử dụng sử dụng kết hợp thuốc này với những thuốc tức chế men chuyển hoặc các thuốc ức chế thụ thể AT1 trên những người mắc bệnh đái tháo đường hoặc suy thận (mức lọc cầu thận dưới 60 ml/phút) do tăng nguy cơ tiềm ẩn suy thận, hạ huyết áp và tăng kali máu. Lưu ý đến dùng aliskiren nếu những người mắc bệnh không còn uống thuốc tức chế men chuyển hoặc thuốc tức chế thụ thể AT1; tuy nhiên đừng nên sử dụng thuốc này cho những người mắc bệnh suy thận giai đoạn 4 hoặc 5.

Thuốc chẹn beta

Hiện có rất hiếm tài liệu định hình công dụng của các thuốc chẹn beta trên tiến triển của loại bệnh thận mạn & protein niệu. Tuy thuốc chẹn beta ko đc liệt kê trong bảng 2 nhưng những thuốc này có khả năng đc Để ý đến là lựa chọn thứ 2 hoặc thứ 3 đối với những người có bệnh có chống chỉ định bắt buộc uống thuốc chẹn beta như bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành hoặc suy tim mạn.

Suy thận mạn tính có nguy hiểm không ?

Mỗi người thông thường có 2 quả thận, có hình giống hạt đậu với những chỉ số như: dài 12 cm, rộng 6 cm, nặng khoảng 150g. Thận là cơ quan tiết niệu rất đặc biệt quan trọng giúp lọc máu, cân bằng nội môi, điều hòa áp suất thẩm thấu và các chuyển hóa trong cơ thể, là cửa ngõ đào thảo chất độc trong cơ thể. Nếu thiếu 1 quả thận, quả còn lại vẫn bảo đảm triển khai được tính năng của tôi, nhưng nếu cả hai cùng có vấn đề được xem là những tác động rất chi là lớn, thậm chí là đe dọa đến sự sống.

Xem thêm: http://chuabenhthan.info/an-cat-heo-co-tot-khong-va-than-heo-co-tac-dung-gi/

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *